Các phương pháp chế tạo kính Sapphire

Các phương pháp chế tạo kính Sapphire

 

 

 

 

 

VERNEUIL

Phương pháp đầu tiên đó là Vernueil được sản xuất tại thủ đô Paris Pháp. Phương pháp này dùng bằng cách sử dụng ngọn lửa phản ứng tổng hợp. Ngày nay nó vẫn thường được sử dụng vì nó là cách tổng hợp saphire và đá quý khác một cách ít tốn kém và phù hợp để áp dụng cho nhiều thứ, cất lượng quang học của chúng rất kém.

luoc-su-va-cac-phuong-phap-che-tao-kinh-sapphire

Phương pháp Vernueil chế tạo kính Sapphire giúp tiết kiệm chi phí

CZOCHRALSKI METHOD (CZ)

Phương pháp tăng trưởng tinh thể CZ được phát hiện vào năm 1916 bởi Jan Czchralski. Trong một buổi tối, ông đang nung thiếc nóng chảy và cầm bút ghi chú, nhưng thay vì nhúng bút vào lọ mực ông lại nhúng nó vào thiếc nóng. Ông nhanh chóng kéo nó ra và nhìn thấy các sợi mỏng bằng kim loại kết tinh ở đầu bút và từ đó ông đã phát triển ra phương pháp này.

Phương pháp này ngày nay cơ bản vẫn được giữ nguyên, quá trình có thể phải mất đến 8 tuần, đòi hòi sự cẩn thận và tiếp năng lượng liên tục kèm theo sự giám sát. Sản phẩm saphire có chất lượng quang học tốt sử dụng rộng rãi trong lazer, hồng ngoại, tia cực tím…

luoc-su-va-cac-phuong-phap-che-tao-kinh-sapphire

Phương pháp này hiện đang được sử dụng trong chế tạo kính sapphire

KYROPOULOUS

Phát triển vào năm 1926, quy trình kết tinh này giảm nhiệt độ độ của các viên tinh thể trong khi vẫn đang còn trang quá trình nung, sử dụng bột nhôm tinh khiết đưa đến nhiệt độ nóng chảy các tinh thể saphire sẽ được hình thành sâu dưới bề mặt nhôm nóng chảy. Với điều kiện được kiểm soát nhiệt độ chặt chẽ gradient, sản phẩm làm ra có đường kính lớn, chất lượng quang học cực tốt, độ tinh khiết rất cao, sản phẩm tạo ra phù hợp với các loại ứng dụng quang học.

luoc-su-va-cac-phuong-phap-che-tao-kinh-sapphire

Phương pháp này tạo ra kính Sapphire có độ tinh khiết cao

HEAT EXCHANGER METHOD (HEM)

Thường được gọi là kyropoulos ngược – kyropoulos chỉnh sửa. Phát minh bởi Fred Schmid và Dennis Viechnicki tại viện nghiên cứu quân đội Watertown, Hoa Kì vào năm 1967. Sử dụng nhôm tinh khiết làm mát bằng heli, quá trình làm mát chậm cho ra loại tinh thể sapphire có tố chất rất đặc biệt Tuy nhiên, việc sản xuất kích cỡ lớn lại thường thất bại vì chúng thương bị nứt do quá trình làm mát.

EDGE – DEFINE FILM – FED GROWTH (EFG)

Bắt đầu phát triển vào năm 1965 bởi kĩ thuật viên Harold Labelle của Waltham kết quả của quá trình là một dạng áp dụng kĩ thuật CZ nhưng đi lèm lợi ích kiểm soát được hình dạng tinh thể. Phương pháp của anh áp dụng thành công vào năm 1967. EFG cung cấp khả năng chế tạo ra các hình dạng khác nhau mà gần như không thể áp dụng được với các loại công nghệ khác. Hạn chế chính là thời gian và chi phí liên quan để sản xuất các khuôn tạo ra các hình dạng tinh thể.

luoc-su-va-cac-phuong-phap-che-tao-kinh-sapphire

Đồng hồ chính hãng hiện nay sử dụng kính Sapphire nguyên khối

Loại sản phẩm cho ra đời có nhược điểm là có độ tinh khiết trung bình dẫn đến chất lượng quang học cũng bình thường. Nó thường dùng trong các ứng dụng quang cơ khí, công nghiệp…

Kính sapphire vốn rất giòn và cứng, chúng chỉ có thể được đánh bóng bằng saphire hoặc kim cương, chúng có thể được đánh bóng bằng máy, nhưng đối với các loại hình dạng đặc biệt thì bắt buộc phải có sự trợ giúp của con người . Đối với đồng hồ cao cấp, người ta thường chuộng kính sapphire vòm, vì nó giúp chống chịu lực rất tốt, hơn hẳn so với loại saphire phẳng.

Hi vọng những thông tin trên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kỹ thật sản xuất kính Sapphire cũng như hiểu rõ bản chất của nguyên liệu này trong quá trình chế tác đồng hồ.

Loading Facebook Comments ...